Bình Thuận : Qua 300 năm lịch sử. Phần 1: Bình Thuận qua Đại Nam Nhất Thống Chí
27/09/2006

Xem hình
Lầu Nuớc Phan Thiết Xưa

Từ cuối thế kỷ XVII vào năm 1693, Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh cùng đoàn quân thủy bộ Đại Việt, dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Chu, sau khi đã vượt qua hơn một trăm năm mươi dặm đường dài, từ phiá bên kia con sông Mai Nương của xứ Panran, qua Paric đại chiến với quân Chiêm tại chiến hào Sông Lũy, tới Ba Giai và cuối cùng dừng quân trên bờ sông Hamulithít. Tới năm 1898, Bình Thuận mới là một tỉnh riêng biệt .

 

1-BÌNH THUẬN XƯA, QUA TÀI LIỆU CỦA ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ :

Sau cuộc nam chinh của vua Lê Thánh Tôn vào năm canh dần 1470, Chiêm Thành trở nên suy yếu vì lãnh thổ chỉ còn lại có Châu Panduranga, từ bờ nam sông Phan Lang vào tới tỉnh Bình Tuy ngày nay mà thôi. Tháng 8 năm Nhâm Thân 1692, Chiêm Vương là Bà Tranh lại tấn công Dinh Bình Khang nên bị Lệ Tài thần Nguyễn Hửu Cảnh đánh đuổi. Chiêm Việt đã giao tranh ác liệt tại Sông Lũy nhưng cuối cùng vẫn bại binh. Nhà vua và hoàng gia bị bắt, châu Panduranga được Chúa Nguyễn phúc Chu đổi là Thuận Thành Trấn năm 1693 nhưng loạn lạc vẫn triền miên trên vùng đất mới này, dù Chúa Nguyễn đã khôn khéo bổ con cháu Bà Tranh giữ các chức Khám Ký,Đề đốc, Đề lãnh... để tự cai tri dân mình. Thế nhưng chính sách vỗ về trên vẫn vô hiệu và không dập nổi các biến cố chính trị triền miên, vì vậy năm 1697 Chúa Nguyễn bãi bỏ Thuận Trấn và thành lập Dinh Bình Thuận. Như vậy tính đển nay, quê hương miền biển mặn đã có trên ba trăm tuổi.

- Bình Thuận khi xưa là nước ngoài cõi của Nhật Nam rồi thuộc đất Chiêm Thành, năm Nhâm Thân 1693 vua Chiêm là Bà Tranh bị Chưởng cơ Nguyễn hữu Kính đánh bại, Hiển Tông Hiến Minh hoàng đế Nguyễn phúc Chu lấy đất Chiêm Thành đổi thành Thuận Trấn. Năm Đinh sửu 1697 đặt Dinh Bình Thuận, lấy đất phía tây Phan Rang lập hai huyện Yên Phúc và Hoà Đa thuộc Dinh, ngoài ra còn thống thuộc 4 Đạo Phan Rang, Phan Thiết, Ma ly và Phố Hải. Đời Duệ Tông Hiếu định hoàng đế Nguyễn phúc Thuần vào năm 1773, Tây Sơn chiếm Bình Thuận nhưng tới năm Quý sửu 1793, Thế tổ Cao Hoàng Đế Nguyễn phúc Ánh lại khôi phục được đất cũ.

Căn cứ theo thiên văn, đất Bình Thuận thuộc khu vực sao Dực, sao Chẩn và sao Thuần Vĩ. Về địa giới phía đông giáp Huyện Vĩnh Xương tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp Huyện Tân Bình tỉnh Biên Hòa, phía đông sát biển, phía tây bao gồm các Man động, nằm cách Kinh thành Huế hơn 1311 dặm. Bình Thuận xưa có chiều dài hơn 400 dặm, phía bắc ven núi, phía nam sát biển, địa thế chật hẹp. Danh sơn có núi Mũi Diên, Hương Ấn, các sông lớn bao gồm sông Mai Nương, Kỳ Xuyên, Phố Hải, Phan Thiết. Về đường bộ có núi Ô Cam ngăn chận, về đường biển thì có Mũi Diên. Phía tây bắc có lập đồn binh trên núi La Thô và Thị Linh để kiểm soát người Man qua lại. Phan Thiết, Phú Hài thuở đó cũng được coi là chốn đô hội nhỏ. Về khí hậu nóng nực, khô ráo, mưa nhiều về mùa hạ mùa thu. Vào mùa đông tiết trời hơi lạnh, tháng 3-4 có gió nam, tháng 8-9 có gió bấc thường gây bão tố, nên tại đây đã phát sinh câu ngạn ngữ : ”tháng chín thì nín bán buôn“. Nghề nông một năm một vụ, bắt đầu gieo trồng vào cuối hạ đầu thu và gặt hái vào mùa đông.

- Sông-Núi trong Tỉnh Bình Thuận :

Tỉnh có nhiều núi sông như núi MŨI DIÊN còn gọi là Diên Chũy về phía đông nam Huyện Tuy Phong, chân núi có 9 khúc trông giống các ngón tay, núi nằm thọc ra biển, chia dòng nước thành hai hướng chảy xiết rất nguy hiểm cho ghe thuyền qua lại. Phía nam có đầm Vũng Diên, tàu thuyền có thể vào tránh gío. Được liệt vào hàng danh sơn, ghi vào điển thờ năm Tự Đức thứ 13. Núi TRÀ NA ở phía đông Huyện, bên đường Trạm, đỉnh núi nhọn như lưởi gươm. Núi Ô CAM ở phía đông nam huyện Tuy Phong, là chiến trường giữa chương cơ Tống phước Hòa và Tây Sơn. Chung quanh còn có nhiều núi như Trà Vân, La Bá, Cô Sơn, Phú Điền, Thuận Long, Tân Chỉnh, Điện Sơn, Chu Đế, Húc Lam, Tà Bôn, Lương Giang, Xích Sa đều thuộc huyện Tuy Phong. Núi HỎA DIỆM ở phiá bắc huyện gồm một rặng, bốn mùa nóng như thiêu đốt, làm cỏ cháy, đêm ngày rực sáng ánh lửa. Núi LAI SƠN về phiá tây huyện Yên Phước, không cao lắm, trên núi có nhiều cây du lai. Bao quanh núi còn có nhiều núi khác như Ỷ Sơn, Tô Mân, Nhĩ Sơn, Trường Sơn, Ông, Cháng, Khánh Nhân, Khan Dụ, Cà Cu.

Phiá bắc có đầm Hương Cựu và các núi Bình Thiên, Ni cô, Bà Tu, Dư Khánh, Mậu Trường, Bốc Liệt. Núi TÀ TRÚ ở phiá tây huyện, nơi phát nguồn sông Mai Nương. Núi HƯƠNG ẤN phía tây huyện Hòa Đa, có bệ đá thờ thần Dương Tu và phu nhân, quanh núi có ao cá, đầm sâu và hang đá.Núi Ỷ LA ở mặt sau tỉnh thành Bình Thuận laị có gò XÍCH THỔ, ác ghe thuyền xuôi ngược từ Vị Nê đến La Gàn đều phải qua, bên núi có giếng Hàm Rồng, nước trong mà ngọt, từ thời Tự Đức thứ 12, đã có đồn binh đóng tại đây. Núi TĨNH HÀM trên có chùa Bàn Thạch. Núi TĨNH LÊ sát bãi biển trên núi có nhiều trái lê, trước kia có lập đài phong hỏa. Núi VỊ NÊ ở phía tạy nam huyện Hoà Đa, giữa động cát nổi lên thành ghềnh đá gọi là mũi VỊ NÊ, phía nam có vũng thuyền bè vào đậu tránh gió, phía đông có Hòn Lao lập điếm canh. Kế bên có các núi Tà Bông, Lô Tô, Mụ Đặng, Giảm Trạng, La Thô, Cà Tung... . Núi ĐÀN LINH ở thượng đạo Phú Hài huyện Tuy Lý. Núi PHỐ CHIÊM ở cực giới phía tây huyện,xung quanh có đồng bằng rộng, xưa là xứ Phố Chăm của người Man Đê Ba Vò.

Núi CẨM KÊ ở phiá nam huyện, kề biển, phía ngoài có hòn Kê Gà. Núi Long Thịnh ở phía tây huyện, thôn Long Thịnh gần có núi Tà Bôn. Núi VẬT THĂNG gần trạm, phía nam huyện, giữa Long Vĩnh và La Gàn, kế bãi biển. Tương truyền Phiên vương Thuận Trấn cứ 7 năm thì đến đây một lần để trai giới và cầu thọ. BA ĐỘNG nằm ở phía tây Trạm, động toàn cát trắng mênh mông vô tận, động thứ nhất cao 12 trượng 5 thước, động thứ hai cao 10 trượng và động thứ ba cao 7 trượng 5 thước... .Giữa có hai cái bầu nước ngọt, có miếu thờ. Đảo THUẬN TỈNH nằm ngoài biển Tuy Phong, gồm 11 thôn có người ở đông đức, mỗi năm biệt cống thuế vải, trên đảo có thổ hào chỉ huy... .

Đảo THIÊN Y còn gọi là đảo Bà nằm về phía đông huyện Tuy Lý, trên có miễu thờ tượng đá của Thiên Y thần bà. HÒN CHONG ngoài biển huyện Yên Phước. HÒN CAU cách bờ Long vĩnh huyện Tuy Phong chừng 15 dặm. GHỀNH ĐÁ phía nam huyện Tuy Lý là nơi đường Trạm qua, sát biển thường bị trở ngại khi nước lên... Ngoài ra khắp tỉnh còn có nhiều rừng như rừng TANG DU ở Yên Phước nhiều voi cọp, rừng BÒ ở Tuy Phong xưa là chổ người Chàm nuôi bò. Ở Hoà Đa có rừng Bình Nhẫn nhiều thú dử nhất là cọp, về phí tây là rừng Nghi Trang có đường mòn di Dã Dương tới gò Ta Cai Gia riêng rừng KHE LỚN ở Tuy Lý đầy ác thú không ai dám bén mảng.

Về các sông lớn có sông MAI NƯƠNG hay Phan Rang, Mai Lang ở phía bắc huyện Yên Phước từ trong Sách Man chảy ra, sau đó chia thành nhiều nhánh như Cai Gia, Tà Thang, Tà Na Sũng rời hợp lưu với sông Ma Bố tại An Hoà chảy ra biển Phan Rang. Sông này cũng là ranh giới thiên giữa hai châu Kauthara và Panduranga và là biên giới của Chiêm Thành cùng Đại Việt trước năm 1693. SÔNG RÒN ở phiá nam Tuy Phong ra biển tại cửa Ròn. Sông LONG VĨNH phát nguồn từ Khe Cạn chảy ra cửa Long Vĩnh.

Sông PHAN RÍ phía nam huyện Hoà Đa phát nguồn từ Man động, qua thành Lũy làm Sông Lũy rồi phân nhánh làm sông Kỳ Xuyên và chảy ra cửa Phan Rí. Sông này trước năm 1693 được vua Bà Tranh xây thành lũy nay dấu củ vẫn cỏn.Trong chiến cuộc giữa chúa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, quân Tôn thất Hội của Chúa Nguyễn và quân cuả Lê Trung-Tây Sơn kịch chiến tại đây. Sông PHỐ HÀI phía nam huyện Tuy Lý phát nguyên từ Mỹ Sơn Man động, chảy qua Tầm Hưng, Phú Long và ra cửa Phố Hải.

Sông PHAN THIẾT từ Man động chảy qua Phú Hội, ban đầu có tên là sông BÀO LÂN, tới thôn Phú Tài hợp lưu với một nhánh từ bến Bình Tân đến cầu Minh Lâm và chảy ra biển Đức Thắng, Phan Thiết.

Sông MA LÝ phát nguyên phía tây nam huyện có hợp lưu tại núi Tà Cú, rồi cùng chảy ra biển tại phường Tân Quý. Sông PHỐ CHIÊM ở cực giới tây bắc huyện, sau khi chảy qua huyện phân nhánh vào sông La Nha ở Biên Hòa. Sông LA DI phát nguyên tại động Man xứ Bồn Bồn ra của La Di. Sông Phù Mi từ núi Phù Trì chảy ra Thắng Hải và cửa Phù Mi... Tóm lại các sông tại Bình thuận đều ngắn, ghe thuyền chỉ có thể đậu ở cửa sông vàm biển, không thể ngược lên thượng nguồn. Ngoài ta khắp tỉnh còn có nhiều hồ lớn như hồ, khe và bầu lớn như khe Kiên Kiền tại Yên Phước, khe Tà Lao ở Ma Lí, Khe nóng ở thượng đạo Ma Lí, Bầu Trằng tại Ba Động, Hồ Đá, hồ Đăng ở Tuy Lý.

- Tỉnh Thành Phủ Huyện :

Tỉnh Thành Bình Thuận : Đắp bằng đất có chu vi 250 trượng, có 4 cửa, chung quanh là hào rộng 4 trượng. Thành ở xã Xuân An huyện Hòa Đa. Thành này được xây từ đời vua Gia Long ở xã Thanh Tu, đời vua Minh Mạng thứ 18, thành được đời về khu vực nằm giữa ba xã Đông An, Thụy Giang và Hòa An. Thành hiện tại xây đời vua Tự Đức thứ 12 và đến năm thứ 20 thì xong với bốn cửa thành có mái che.

Thành Phủ Hàm Thuận có chu vi 72 trượng bằng đất, có hào chung quanh, mở 2 cửa. Phủ Hàm Thuận đóng tại thôn Phú Tài huyện Tuy Lý, được dời từ xã Xuân An, huyện Hòa Đa về đây từ năm Minh Mạng thứ 19.

Lỵ sở Hòa Đa đóng tại thôn Xuân Hội từ năm Tự Đức 19. Thành phủ Ninh Thuận xây năm Minh Mạng thứ 11, tại thôn Kinh Dinh huyện Yên Phước, chu vi 72 trượng có hào bao quanh và Lỵ sở huyện Tuy Phong từ thôn Thái Hòa dời về thôn Vĩnh An năm thứ 16 đời vua Minh Mạng.

Riêng về các đồn ải dưới thời nhà Nguyễn, qua các danh xưng Bảo và Tấn, gồm có : Bảo THỊ LINH nằm dưới núi Phố Chiêm phía tây bắc huyện Tuy Lý. Vào năm Tự Đức thứ 10, Phan Trung khởi binh đánh Pháp đã đóng căn cứ tại đồn Giao Hoan trong bảo Thị Linh. Bảo ĐÀN LINH nằm ở thượng đạo Phố Hải. Năm Minh Mạng thứ 4 người Man Cam Tăng làm phản chiếm Bảo nhưng được trấn thủ Nguyễn văn Vĩnh lấy lại.

Tại thành cũ ở Đông An và Thụy Giang, huyện Hòa Đa về sau được biến thành hai Bảo do lãnh binh trấn thủ. Về Tấn có MA VẰN rộng 35 trượng phía đông nam huyện Yên Phước có thủ sở. Tấn PHAN RANG ở phía nam huyện rộng 5 trượng sâu 4 m. Tấn CÀ NÁ ở phía đông huyện Tuy Phong trên có đầm Chỏ chỗ đóng thủ sở, cạnh đó có các Tấn Vũng Dâm, Long Vĩnh.

Tuy nhiên qui mô hơn thì có Tấn PHAN RÍ phía nam huyện Hòa Đa rộng 5 trượng nhưng vào năm Tự Đức 15, tấn vở vì lụt sau đó mở rộng tới 75 trượng, sâu 5 thước. Tấn Phan Rí cũng là nơi đã xãy ra trận thủy chiến giữa Tôn thất Hội của chúa Nguyễn Ánh và đô đốc Hồ văn Chư nhà Tây Sơn. Còn Tấn Phú Hài phía đông huyện Tuy Lý, rộng 60 trượng 5 thước, từng là nơi Quản đạo đóng nhưng sau đời đi, chỉ còn đặt một Thủ ngự và một Hiệp thủ coi sóc an ninh và thuế má mà thôi. Tấn PHAN THIẾT phía nam huyện rộng 21 trượng, sâu 7 thước, ngoài biển có hòn Cô Dữ, phía tây có Thủ sở nguyên trước là Lỵ Sở. Đây là nơi từng xảy ra nhiều giao tranh giữa Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh trong thời trung hưng. Về phía nam còn có các Tấn MA LY, LA DI và PHÙ MY.

- Phủ Hàm Thuận : Nằm về phía tây nam cách tỉnh thành 130 dặm, phiá đông giáp huyện Tuy Phong thuộc phủ Ninh Thuận, phía tây đến địa giới huyện Phúc Bình tỉnh Biên Hòa, phía đông giáp biển, phía bắc tới động Man, đông tây cách nhau 278 dặm, nam bắc xa 45 dặm, lãnh hai huyện Hòa Đa và Tuy Lý.

- Phủ Ninh THuận : cách tỉnh thành 12 dặm về phía đông bắc, đông là biển, bắc giáp huyện Vĩnh Xương tỉnh Khánh Hòa, tây và nam giáp phủ Hàm Thuận, đông tây cách nhau 136 dặm, nam bắc xa 95 dặm, bao gồm hai huyện Yên Phước và Tuy Phong, nguyên là đất thuộc phủ Hàm Thuận được trích chia từ năm Minh Mạng thứ 13. Đời vua Đồng Khánh thứ 4 (1886) đổi thành Đạo Ninh Thuận nhập tỉnh Khánh Hòa nhưng huyện Tuy Phong vẫn thuộc Bình Thuận.

- Nhà Trạm : Từ khi vua Gia Long nhất thống sơn hà, con đường thiên lý tức là quốc lộ 1 ngày nay đã được trùng tu, mở rộng, chạy suốt từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mâu và trấn Hà Tiên. Tại Bình Thuận, triều đình đã thiết lập nhiều nhà tram để dịch chuyển công văn, thư từ và cũng là nơi nghỉ chân của các sai nha, quan lại, bưu trạm khi công tác.

Qua tài liệu, ta thấy có các trạm THUẬN LAI ở thôn Nhân Sơn huyện Yên Phước, trạm THUẬN MAI ở chợ Mai Nương và Đắc Nhân, trạm THUẬN TRÌNH ở thôn Đại Định, trạm THUẬN NƯƠNG ở thôn Cam Tỉnh huyện Tuy Phong, trạm THUẬN HẢO ở thôn Vĩnh Hảo, trạm THUẬN VÕNG ở xã Cao Hậu, trạm THUẬN PHÚ ở thôn Ninh Phú huyện Hòa Đa, trạm THUẬN ĐỘNG ở thôn Bình Nhân có đường rừng thông với 7 trường trầu không đầu núi, trạm THUẬN CƯƠNG ở thôn Long Sơn, trạm THUẬN TĨNH ở thôn Lạc Nghiệp, trạm THUẬN PHIÊN ở thôn Tân Phú huyện Tuy Lý, trạm THUẬN LÝ ở xã Toàn Thịnh, trạm THUẬN LÂM ở thôn Văn Kê, trạm THUẬN TRÌNH ở thôn Tân Hoàng, trạm THUẬN PHÚC ở phường Phúc Lộc và trạm THUẬN PHƯƠNG ở thôn Phúc Lộc nằm về cực nam nối với trạm Thuận Biên của tỉnh Biên Hòa. Cũng lưu ý là đường quan lộ cũ chạy men theo bờ biển, con đường quốc lộ 1 thời pháp thuộc, khi tới ngã ba Bình Tuy thì bỏ đoạn đuờng củ từ La Di qua Phù My, Long Hải, Vũng Tàu... mà làm con đường mới xuyên rừng lá qua Long Khánh, Biên Hòa tới Sài Gòn như hiện nay.

(Binhthuantoday)

 


Các tin khác: